Ngũ phương là gì?

1. Ngũ Phương là gì?

Ngũ phương là năm phương đông, tây, nam, bắc, trung* Phong thuỷ học cho rằng mỗi phương đều có đặc tính riêng. Thí dụ phương đông là nơi mặt trời mọc, ấm áp ôn hoà, phương nam là nơi mặt trời chiếu rọi, oi bức, tính nóng; phương tây là nơi mặt trời lặn, lại ít người nhiều đá, tiêu sát; phương bắc là nơi băng tuyết phủ, khí hậu giá lạnh; trung ương là nơi phì nhiêu sinh ra vạn vật, tập hợp cái lợi của cả bôn phương.       , V

Phong thuỷ học căn cứ tính chất của ngũ hành, phối hợp ngũ hành với ngũ phương: Phương đông thuộc Mộc, phương nam thuộc oa, phương Tâỵ thuộc Kim, phương bắc thuộc Thuỷ, trung ương thuộc Tho. Người có thuộc tính ngũ hành khác nhau, nếu cư trú ở phương vị tương sinh tương ứng với thuộc tính này thì có thể được lợi, nếu không thi có thể có hại.

2. Thiên can và phương vị ngũ hành có quan hệ đối ứng như thế nào?

Mười thiên can có quan hệ đối ứng một—một với ngũ phương ngũ hành: Giáp Ất ngũ hành thuộc Mộc, tương ứng với phương đông; Bính Đinh ngũ hành thuộc Hoả, tương ứng với phương nam; Mậu Kỷ ngũ hành thuộc Thể, tương ứng với trung ương; Canh Tân ngũ hành thuộc Kim, tương ứng với phương tây; Nhâm Quý ngũ hành thuộc Thuỷ, tương ứng với phương bắc. Do được gán cho thuộc tính ngũ hành nên mười thiên can cũng có quan hệ sinh khắc với nhau tuỳ theo thuộc tính ngũ hành của từng can.

3. Lý giải xung và hỢp giữa các thiên can như thế nào?

Giữa các thiên can ngoài mốì quan hệ sinh khắc cơ bản ra, còn có các môì quan hệ tương xung, tương hợp. Trong phong thuỷ hoc, tương xung nghĩa là không hợp, xung đột nhau. Trong mười thiên can, Giáp Canh tương xung, Ât Tân tương xung, Nhâm Bính tương xung, Quý Đinh tương xung. Ngoài tương xung, còn có tương hợp, còn được gọi là hợp hoá, hai can dung hợp nhau thành một vật chất khác. Trong mười thiên can, Giáp và Kỷ hoá hợp thành Thổ, Ất và Canh hoá hợp thành Kim, Bính và Tân hoá hợp thành I Thuỷ, Đinh và Nhâm hoá hợp thành Mộc, Mậu và Quý hoá hợp 1 thành Hoả. Thí dụ Giáp và Kỷ, Giáp thuộc Mộc, Kỷ thuộc Thổ, hai can gặp nhau sẽ hoá thành Thổ, nghĩa là tăng cường sức mạnh của Thể.

Thiên can là một trong các ký hiệu dùng để ghi thời gian và lịch pháp phương Đông. Vào thời thượng cể, người ta đã sáng tạo ra mười thiên can dùng để ghi năm ghi ngày, đại diện cho mười năm hoặc mười ngày. Trong các giáp cốt văn thời Ân, Thương khai quật

4. Ngũ hành trong mười thiên can như thế nào?

Mười thiên can đên từ mười hành tinh lớn trong hệ mặt trời chúng lần lượt được biểu thị bằng Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ’ Canh, T ‘ân, Nhâm, Quý. Thứ tự của mười thiên can ẩn chứa quá trình từ đâm chồi nảy lộc đến trưởng thành, đến hưng vượng cho đến tiêu biến của vạn vật. Chúng có quan hệ đốỉ ứng với ngu hành. Cụ thể, mối quan hệ đôi ứng này là: Giáp Ât thuộc Mộc, đại diện cho phương đông. Bính Đinh thuộc Hoả, đại diện cho phương nam. Mậu Kỷ thuộc Thổ, đại diện cho trung ương. Canh Tân thuộc Kim, đại diện cho phương tây. Nhâm Quý thuộc Thuỷ, đại diện cho phương bắc. Trong đó Giáp là Mộc dương, At là Mộc âm; Bính là Hoả dương, Đinh là Hoả âm; Mậu là Thổ dương, Kỷ là Thể âm; Canh là Kim dương, Tân là Kim âm; Nhâm là Thuỷ dương, Quý là Thuỷ âm.

 

dia diem noi that gia khanh
dia diem noi that gia khanh